Dự báo một số nét chính về chiều hướng vận động của tình hình thế giới trong 5

0
9
Nước ta sắp bước vào thời kỳ mới với Kế hoạch 5 năm (2021 – 2026) và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm (2021 – 2030). Là một bộ phận của thế giới nay đã hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam không thể không tính đến cục diện quốc tế trong thập niên tới. Trong thời điểm đầy biến động như hiện nay, dự báo chuẩn xác tình hình là một việc hết sức khó khăn. Tuy nhiên, căn cứ vào quy luật vận động của những chiều hướng lớn trên thế giới trong lịch sử và diễn biến tình hình trong những năm gần đây có thể dự báo một số nét khái quát về chiều hướng phát triển của thế giới trong 5 – 10 năm tới để làm căn cứ hoạch định chính sách.

Về chiều hướng phát triển kinh tế thế giớiTrong lĩnh vực kinh tế, có bốn câu hỏi lớn cần được giải đáp, đó là: Kinh tế thế giới sẽ phục hồi ra sao sau cuộc khủng hoảng hiện nay? Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0) sẽ đưa tới những chuyển biến gì? Tương quan lực lượng (về kinh tế) giữa các nền kinh tế chủ yếu và trật tự kinh tế quốc tế sẽ chuyển dịch thế nào? Xu thế hóa, tự do hóa thương mại sẽ ra sao?

Dự báo một số nét chính về chiều hướng vận động của tình hình thế giới trong 5

Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa (Trong ảnh: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến thăm, động viên cán bộ, chiến sĩ Tàu hộ vệ tên lửa Lý Thái Tổ (Lữ đoàn 162), trong chuyến thăm, làm việc với các đơn vị Vùng 4 Hải quân, ngày 5-5-2016) _Ảnh: TTXVN
1- Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 hoành hành trên toàn cầu, cả Tổng Thư ký Liên hợp quốc cũng như Tổng Giám đốc Quỹ tệ quốc tế (IMF) cùng nhiều chính khách và các nhà kinh tế đều cảnh báo rằng, thế giới đang rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Đại dịch COVID-19 trực tiếp kích hoạt khủng hoảng, song nguồn cơn khủng hoảng liên quan tới một loạt nhân tố khác, như tranh chấp thương mại và dầu mỏ cũng như về chính trị – chiến lược giữa các nước lớn. Vì vậy, tính chất và chu kỳ khủng hoảng lần này rất khác những quan niệm kinh điển về khủng hoảng kinh tế nói chung.

Hiện nay, chưa thể dự báo chính xác được khi nào đại dịch COVID-19 chấm dứt, cuộc khủng hoảng tới sẽ gây ra tác hại lớn tới mức nào, sự phục hồi kinh tế thế giới sẽ ra sao: theo hình chữ L (giảm mạnh rồi trì trệ dài dài) hay hình chữ U (giảm sâu rồi từ từ phục hồi) hoặc chữ V (giảm mạnh rồi phục hồi nhanh); hay theo hình chữ W (khủng hoảng và phục hồi kép)?

Dự báo một số nét chính về chiều hướng vận động của tình hình thế giới trong 5

Ngoài ra, cần tính đến những “tác động phụ” đáng kể liên quan tới tình hình chính trị – xã hội ở nhiều nước, sự chuyển dịch sức mạnh của các quốc gia, cũng như mô hình phát triển, cơ cấu kinh tế, hình hài của các chuỗi sản xuất và cung ứng, quan hệ quốc tế, các thể chế và luật lệ đa phương… Dù sao, quá trình phục hồi kinh tế toàn cầu chắc sẽ chật vật và kéo dài. Đó là mới bàn tới tương lai tương đối gần, còn trong tương lai xa hơn, không thể đoán định chính xác được tình hình sẽ diễn biến như thế nào.

2- Thế giới hiện đang chứng kiến sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, tác động sâu rộng và đưa tới những chuyển biến sâu sắc về mọi mặt, như cơ cấu và phương thức sản xuất – kinh doanh; sự vận hành của hệ thống tài chính – tiền tệ; cơ cấu và chất lượng lao động; phương cách làm việc và lối sống của con người; phương thức học tập, chữa bệnh; phương tiện và phương thức bảo đảm quốc phòng – an ninh… Do đó, có thể nói, nền kinh tế thế giới đang bước vào thời đại mới về tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, mang đến những thay đổi sâu sắc trong quan hệ sản xuất và quan hệ xã hội.

Nhờ những thành tựu về , cho nên, tới nay, số người tử vong ít hơn đáng kể so với các cuộc đại dịch trước kia(1) nhưng đại dịch COVID-19 lây lan nhanh và rộng hơn nhiều. Qua đó càng thấy công nghệ số phát huy tác dụng về nhiều mặt, trong khi đó công nghệ sinh học đang phải đối mặt với nhiều thách thức cam go.

Dự báo một số nét chính về chiều hướng vận động của tình hình thế giới trong 5

Thế giới hiện đang chứng kiến sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, tác động sâu rộng và đưa tới những chuyển biến sâu sắc về mọi mặt của đời sống xã hội _Ảnh: Tư liệu

3- Phù hợp với quy luật phát triển không đều, trong những thập niên qua, tỷ trọng của các nền kinh tế phương Tây, kể cả Mỹ, các nước Tây Âu và Nhật Bản trong nền kinh tế thế giới có xu hướng thuyên giảm; tỷ trọng của các nền kinh tế Trung Quốc, Ấn Độ ngày một tăng. Theo cuốn “Địa lý công nghiệp châu Á đang thay đổi: Trường hợp Trung Quốc và Ấn Độ” (Changing the Industrial Geographie in Asia: The impact of China and India) do Thế giới (WB) ấn hành vào năm 2010, tỷ trọng của các nền kinh tế chủ yếu trong 200 năm, kể từ năm 1820 đến năm 2030, chuyển dịch (tỷ lệ %) theo chiều hướng sau: (Xem bảng trên).

Dự báo của các tổ chức và các nhà nghiên cứu trên thế giới tuy khác nhau về mức độ và thời điểm song đều thống nhất theo chiều hướng trên, trong đó đáng chú ý là nhóm “các nền kinh tế mới nổi” mà điển hình là Nhóm BRICS(2) “vang bóng một thời”, nay cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức, không còn là “phao cứu sinh” đối với nền kinh tế thế giới trong cơn sóng gió nữa. Sau cuộc khủng hoảng lần này, sự chuyển dịch sức mạnh kinh tế chắc sẽ chứng kiến nhiều nét mới.

4- Dưới tác động của sự chuyển dịch sức mạnh nói trên đã diễn ra cuộc chiến thương mại và cả tiền tệ giữa hai nền kinh tế lớn nhất là Mỹ và Trung Quốc. Thỏa thuận thương mại Mỹ – Trung Quốc giai đoạn một (tháng 1-2020) mới chỉ là cuộc “hưu chiến”, quan hệ hai nước vẫn ẩn chứa nhiều biến số khó lường; thậm chí ngay trong cơn đại dịch COVID-19, hai nước vẫn “tiếng bấc tiếng chì”. Đó là chưa kể những tranh chấp, lục đục về kinh tế giữa Mỹ với các đối tác khác, như Ca-na-đa và Mê-hi-cô, các nước Liên minh châu Âu (EU), Nga và cả Nhật Bản…

Những hiện tượng trên có phải là dấu hiệu cáo chung của xu thế toàn cầu hóa không? Có thể thấy, trong những thập niên qua, nền kinh tế thế giới đã chịu tác động mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa, theo đó, các dòng hàng hóa, dịch vụ, , tiền tệ, con người, lao động, thông tin, phương tiện giao thông – vận tải,… lan tỏa ra toàn cầu, đáp ứng nhu cầu mở rộng thị trường cũng như lợi thế so sánh của các nền kinh tế và sự bùng nổ của công nghệ thông tin. Để điều tiết chiều hướng đó, các “luật chơi” chung đã được hình thành, thể hiện tập trung trong những quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và các hiệp định thương mại tự do (FTA).

Tận dụng xu thế trên, Mỹ từng ra sức cổ xúy cho cái gọi là “sự đồng thuận Oa-sinh-tơn” về tự do hóa, tư nhân hóa và phi tập trung hóa kinh tế nhằm áp đặt mô hình phát triển của mình đối với cả thế giới. Việc chính quyền của Tổng thống Mỹ Đô-nan Trăm theo đuổi xu hướng bảo hộ không có nghĩa là Mỹ từ bỏ những toan tính trên, mà chỉ muốn giành lại những gì Mỹ coi là bị “thiệt thòi”. Các cơ chế liên kết kinh tế thể hiện trong các FTA vẫn tiếp tục tồn tại và hình thành, ngay những thỏa thuận vốn có giữa Mỹ với Ca-na-đa và Mê-hi-cô cũng chỉ được chỉnh sửa chứ không mất đi.

Những biểu hiện trên cho thấy toàn cầu hóa tiếp tục là xu thế khách quan; những “đòi hỏi” của Mỹ chỉ nhằm điều chỉnh một số “luật chơi” mà Mỹ cho rằng không có lợi cho Mỹ chứ không phải là sự cáo chung của xu hướng tự do hóa thương mại và đầu tư.

Nói cách khác, về cơ bản trật tự kinh tế quốc tế hiện hành không mất đi nhưng sẽ bị điều chỉnh; các “luật chơi” trên thương trường thế giới sẽ là sự pha trộn giữa các “luật chơi” cũ và những điều chỉnh mới.

Một số chiều hướng trong quan hệ quốc tế

Quan hệ quốc tế về chính trị – an ninh đang và sẽ đối mặt với cục diện cạnh tranh khốc liệt giữa các nước lớn. Hiện tượng này không phải là mới mà đã lặp đi lặp lại trong hàng nghìn năm nay dưới tác động của quy luật phát triển không đều và sự cạnh tranh giữa cường quốc mới “trỗi dậy” và cường quốc “cũ”. Điều này được thấy rõ qua sự thịnh – suy của một số đế quốc trước đây. Có điều là, từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, “chiến tranh nóng” giữa các nước lớn được thay thế bằng “chiến tranh lạnh”(3). Bức tranh toàn cảnh thế giới hiện nay đang lặp lại quy luật trên với một số nét mới:

Về nguyên nhân, cục diện này phản ánh sự chuyển dịch sức mạnh của các quốc gia, trong đó Mỹ và Tây Âu suy yếu tương đối, Trung Quốc vươn lên mạnh mẽ, Nga nỗ lực khôi phục vị trí cường quốc hàng đầu của mình. Chiến lược An ninh quốc gia của Mỹ công bố ngày 18-12-2017 nêu rõ, “Trung Quốc và Nga thách thức sức mạnh, ảnh hưởng và các lợi ích của Mỹ, nỗ lực làm suy yếu an ninh và sự thịnh vượng” cũng như vai trò “lãnh đạo thế giới” của Mỹ. Trong khi đó, Trung Quốc lại muốn “phấn đấu thực hiện giấc mơ phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa, là thời đại Trung Quốc ngày càng tiến gần đến trung tâm vũ đài thế giới…” và đến năm 2049 “trở thành quốc gia có sức mạnh tổng hợp dẫn đầu về tầm ảnh hưởng quốc tế”… và “quân đội nhân dân thành quân đội hàng đầu thế giới” như đã được nhấn mạnh tại Đại hội XIX của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Xung quanh vấn đề này nảy sinh một câu hỏi: Sự cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ ra sao một khi có sự thay đổi trong chính quyền Mỹ? Thực ra, cho dù trong nội bộ nước Mỹ có nhiều bất đồng, xung khắc trên nhiều vấn đề nhưng có sự đồng thuận khá cao về mục tiêu duy trì vai trò “lãnh đạo thế giới” của Mỹ, ngăn chặn sự cạnh tranh của Trung Quốc. Bên cạnh thế cạnh tranh Mỹ – Trung Quốc không thể không tính tới sự cạnh tranh chiến lược Mỹ – Nga, nhất là ở châu Âu và khu vực Trung Cận Đông.

Về sự phân bố lực lượng, mặc dù Mỹ vẫn là siêu cường duy nhất, song vị trí, uy tín quốc tế ngay cả đối với các nước đồng minh, không còn như trước. Thiết nghĩ, cục diện thế giới hiện nay và trong những năm tới cũng không phải là “đa cực” vì nói chung các quốc gia sẽ không “xếp hàng” theo các “cực” như trước mà tìm kiếm sự tập hợp lực lượng đa dạng, đan xen, uyển chuyển hơn. Có thể hình dung sự tập hợp lực lượng ngày nay diễn ra theo các hình thái sau: 1- Các liên minh cũ do Mỹ dẫn dắt, như khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), khối Hiệp ước An ninh quân sự Ô-xtrây-li-a – Niu Di-lân  - Mỹ (ANZUS), các liên minh Mỹ – Nhật Bản, Mỹ – Hàn Quốc, Mỹ – Phi-líp-pin,… sẽ tiếp tục tồn tại, song mối nghi ngờ, sự cọ xát lợi ích giữa các nước ngày một gia tăng. Do niềm tin vào Mỹ bị lung lay, nhiều nước chuyển sang chính sách “phòng bị nước đôi” như EU vừa tìm cách xây dựng lực lượng vũ trang của riêng mình, vừa tìm cách cải thiện quan hệ với Trung Quốc và cả Nga; Ấn Độ từ chỗ gắn bó với Liên Xô trước đây và Nga sau khi Liên Xô tan rã, nay theo đuổi chính sách “đa dạng hóa quan hệ quốc tế”, cải thiện sự bang giao với cả Mỹ và Trung Quốc, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh “chính sách hướng Đông”. 2- EU sẽ ngày càng khó khăn do mâu thuẫn chính trị – xã hội trong từng quốc gia thành viên và xu hướng ly tâm tiếp tục phát triển: ngoài câu chuyện nước Anh rời “con tàu” EU (Brexit), châu Âu phải đối mặt với một số biểu hiện ly tâm ở một số nước và hố ngăn cách giữa khu vực Đông Âu và Tây Âu. 3- Quan hệ Nga và Trung Quốc hiện nay được cả hai bên đánh giá là “tốt hơn bao giờ hết”, tuy nhiên, mỗi nước đều nỗ lực phát huy vai trò của mình, như Trung Quốc thành lập Ngân hàng Phát triển hạ tầng châu Á (AIIB), Nhóm mới thành lập Ngân hàng Phát triển mới (NDB)…; Nga nỗ lực duy trì cơ chế Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) và Liên minh Kinh tế Á – Âu (EAEU)…

Nhìn chung, thế giới đã và sẽ xuất hiện vô số sự tập hợp lực lượng đa dạng về hình thức, lĩnh vực, thành phần ở tầm tiểu khu vực, khu vực, liên khu vực và toàn cầu, tạo nên thế đa cực đan xen nhau.

Về nội hàm, sự cạnh tranh hiện nay mang tính toàn diện hơn thời kỳ “lưỡng cực”: Cuộc chạy đua vũ trang và khoa học – công nghệ không chỉ diễn ra giữa Mỹ và các nước phương Tây với Nga mà còn có sự tham gia của Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và nhiều nước khác, riêng chi phí quốc phòng ngày càng lớn hơn và trình độ kỹ thuật quân sự cao hơn nhiều so với thời Chiến tranh lạnh. Nếu trước đây, cuộc cạnh tranh Mỹ – Liên Xô tập trung vào trật tự chính trị – an ninh quốc tế là chính thì cuộc cạnh tranh Mỹ – Trung Quốc ngày nay liên quan tới cả trật tự kinh tế quốc tế, trong đó Trung Quốc chủ trương thúc đẩy “hai xây dựng”(4), thúc đẩy “hệ thống quản trị toàn cầu phát triển theo hướng công bằng, hợp lý hơn, trở thành trụ cột trong thế giới hỗn loạn”(5).

Có ý kiến cho rằng, cuộc cạnh tranh hiện nay không còn mang tính “ý thức hệ” mà chỉ xuất phát từ “lợi ích quốc gia – dân tộc”. Điều này chỉ đúng một phần. Trước đây thế giới đã từng xảy ra những biểu hiện “kỳ lạ” khi lợi ích dân tộc lấn lướt nhân tố ý thức hệ, như việc các nước trong trục “đồng minh” Anh – Pháp – Mỹ liên minh với Liên Xô chống phát-xít Đức – Ý – Nhật trong Chiến tranh thế giới thứ hai hay cặp quan hệ Trung Quốc – Liên Xô, ngày nay là Trung Quốc – Nga như đã đề cập ở trên. Mặt khác, nhiều biểu hiện cho thấy, trong cuộc cạnh tranh với Trung Quốc, không phải Mỹ không tìm cách tác động tới thể chế kinh tế và chính trị – xã hội của Trung Quốc.

Về tính chất, trong mối quan hệ “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” giữa các nước lớn, mặt “đấu tranh” đậm nét hơn, quyết liệt hơn, thậm chí toàn diện hơn, phức tạp hơn cả thời kỳ Chiến tranh lạnh. Có điều khác là tính tùy thuộc lẫn nhau, nhất là về kinh tế, cao hơn nhiều so với trước đây; cũng do lợi ích thiết thân về kinh tế, không phải lúc nào và ở đâu các đồng minh của Mỹ cũng thực hiện theo ý của Mỹ.

Mặc dù vậy, ít khả năng cạnh tranh vượt qua “lằn ranh đỏ” dẫn tới đụng độ quân sự trực tiếp giữa các nước lớn, kích hoạt một cuộc chiến tranh thế giới mới. Những nhận định của Đại hội VIII của Đảng ta cho rằng: “Nguy cơ chiến tranh thế giới hủy diệt bị đẩy lùi” hay của Đại hội IX đánh giá: “Trong vài thập niên tới ít có khả năng xảy ra chiến tranh thế giới” vẫn còn nguyên giá trị, bởi ngày nay không một nước nào nắm được ưu thế tuyệt đối về vũ khí tên lửa – hạt nhân, không một nước nào có thể duy trì được sự an toàn tuyệt đối. Ngay cả với Mỹ, sự kiện ngày 11-9-2001 cho thấy rõ điều đó.

Về khu vực, trước đây sự cạnh tranh giữa Liên Xô với Mỹ và phương Tây chủ yếu diễn ra tại châu Âu và một số “khu vực ngoại vi”, nơi phong trào giải phóng dân tộc dâng cao, còn ngày nay sự cạnh tranh giữa Mỹ với Trung Quốc chủ yếu diễn ra ở khu vực Tây Thái Bình Dương và gần đây lan sang khu vực Ấn Độ Dương, còn sự cạnh tranh giữa Mỹ và các nước phương Tây với Nga chủ yếu diễn ra tại các khu vực thuộc Liên Xô trước đây cũng như Trung Cận Đông. Nói như vậy không có nghĩa là sự cạnh tranh này không xảy ra ở các khu vực khác, như Mỹ La-tinh, châu Phi, thậm chí tại các quốc đảo Nam Thái Bình Dương, Bắc và Nam Cực, trên các đại dương và vũ trụ…

Châu Á – Thái Bình Dương sẽ tiếp tục là khu vực phát triển hàng đầu với sự hiện diện của nhiều nước lớn và các nền kinh tế năng động, nằm trên tuyến hàng hải, hàng không sôi động bậc nhất thế giới, nơi hiện diện các liên minh, tổ chức, thể chế đa phương quan trọng. Nét mới trong thời gian tới có thể là sự hình thành tập hợp mới trong không gian“Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” (FOIP) của Mỹ cạnh tranh với Sáng kiến “Vành đai, Con đường” (BRI) của Trung Quốc.

Riêng Đông Nam Á được đánh giá là khu vực phát triển năng động, có quan hệ tích cực với tất cả các nước lớn và duy trì được “vai trò dẫn dắt” trong các thể chế khu vực. Tuy nhiên, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cũng đang phải đối mặt với một số thách thức, nổi lên là tác động tiêu cực từ cuộc chiến thương mại cũng như sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; sự đoàn kết, thống nhất nội khối ít nhiều chịu tác động tiêu cực từ những diễn biến mới này. Trong thời gian tới, uy tín và vai trò của ASEAN sẽ tùy thuộc nhiều vào sự đoàn kết nội khối cũng như khả năng thích nghi, ứng phó với tác động của cuộc cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và khủng hoảng toàn cầu. Không phải ngẫu nhiên trong năm 2020, khi Việt Nam đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN, chủ đề của Cộng đồng là “Gắn kết và chủ động thích ứng”.

Tóm lại, phương thức sản xuất và tương quan lực lượng trên thế giới đang chuyển dần sang cục diện mới. Trong thời kỳ chuyển tiếp, những đường nét cơ bản của trật tự kinh tế và chính trị quốc tế cũ hình thành sau “thế giới hai cực” chưa mất hẳn; trật tự mới chưa định hình, do đó đã nảy sinh nhiều tình huống bất an, bất định. Cho dù lãnh đạo các nước có thể thay đổi, những chiều hướng lớn đang diễn ra hiện nay vẫn sẽ tiếp diễn với một số sự điều chỉnh.

Việt Nam trong bối cảnh mới của thế giới

Qua bức tranh toàn cảnh của cục diện toàn cầu và khu vực trong 5 – 10 năm tới, có thể hình dung nước ta có những thuận lợi rất cơ bản: Một là, hòa bình, hợp tác dù có phải đối mặt với nhiều thách thức hơn song vẫn là những xu thế lớn; đa số các quốc gia vẫn ủng hộ chủ nghĩa đa phương và tự do hóa thương mại – đầu tư. Hai là, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra nhiều cơ hội mới cho sự phát triển nếu nước ta tranh thủ được những lợi thế này. Ba là, vị thế quốc tế của nước ta cả về chính trị – an ninh lẫn kinh tế, có nhiều thuận lợi, thậm chí cả trong công cuộc chống dịch bệnh hiện nay, nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước lớn, đều coi trọng vai trò và vị thế của Việt Nam.

Dự báo một số nét chính về chiều hướng vận động của tình hình thế giới trong 5

Trong công cuộc phòng, chống dịch bệnh hiện nay, nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước lớn, đều coi trọng vai trò và vị thế của Việt Nam (Trong ảnh: Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì Hội nghị Cấp cao ASEAN+3 bằng hình thức trực tuyến về ứng phó với dịch bệnh COVID-19) _Ảnh: TTXVN

Mặt khác, trong 5 – 10 năm tới, nước ta chắc sẽ phải đối mặt với những thách thức lớn, như: 1- Cuộc cạnh tranh giữa các nước lớn, nhất là giữa Trung Quốc với Mỹ làm nảy sinh rất nhiều nhân tố bất định ở ngay khu vực Tây Thái Bình Dương, trong đó có vấn đề Biển Đông; 2- Là nền kinh tế có độ mở cao, Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều tác động tiêu cực từ những xáo động về kinh tế, tài chính – tiền tệ và xu thế bảo hộ. 3- Nếu không nắm bắt được những thuận lợi do cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đem lại, nguy cơ tụt hậu xa hơn càng nghiêm trọng, cả về “chất” và “lượng”.

Những diễn biến của tình hình thế giới và khu vực chắc sẽ đặt ra cho nước ta nhiều vấn đề trong việc xây dựng và triển khai Kế hoạch 5 năm (2021 – 2025) cũng như Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm (2021 – 2030), thậm chí cả tầm nhìn tới năm 2045. Chí ít chúng ta cần tính đến một số khía cạnh như:

Một là, những nhân tố bất trắc gia tăng cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn. Thực trạng đó đặt ra hai vấn đề lớn: 1- Cần xây dựng các kế hoạch cơ động, linh hoạt theo những kịch bản khác nhau, tránh chốt chặt các chỉ tiêu; 2- Thể theo phương châm “nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng”, càng cần nỗ lực làm cho nền kinh tế nước ta đứng vững “trên đôi chân của mình” để có thể ứng phó hiệu quả với những biến động của nền kinh tế toàn cầu. Điều đó hoàn toàn không có nghĩa là “đóng cửa” mà chỉ hàm ý rằng, bên cạnh việc tiếp tục mở rộng và đa dạng hóa thị trường toàn cầu, cần tranh thủ những ngành công nghệ đem lại hiệu quả, chất lượng cao, nhất là “nội hóa” được chúng. Điều này đã được Đảng ta nhấn mạnh nhiều lần, song tiếc rằng thực tế chưa được như mong đợi.

Hai là, yêu cầu phát triển đất nước đòi hỏi phải tận dụng tối đa nhưng có trọng tâm, trọng điểm những lợi thế mà cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đem lại; đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển đi đôi với việc chủ động ứng phó với những tác động trái chiều của cuộc cách mạng đó. Nếu không tận dụng được cơ hội mới này, chúng ta khó có thể đạt được mục tiêu đứng vào hàng ngũ các nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và nguy cơ tụt hậu ngày càng xa sẽ trở nên trầm trọng hơn.

Phòng ngừa và thích ứng với những biến động trong trật tự kinh tế quốc tế, chủ động tham gia quá trình định hình những “luật chơi” mới cũng là một yêu cầu không thể không tính tới.

Bên cạnh những xáo động về kinh tế, đã và sẽ xuất hiện nhiều vấn đề xã hội phức tạp mới. Dưới tác động của sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và xu thế toàn cầu hóa, sự phân hóa giàu – nghèo ở mỗi nước và giữa các nước ngày càng sâu sắc không chỉ ở các nước đang phát triển mà ngay tại các nước công nghiệp phát triển, dẫn tới nhiều mâu thuẫn, xáo động xã hội lớn. Cùng với đó, các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, trong đó có những biểu hiện cực đoan của tình trạng biến đổi khí hậu cùng với dịch bệnh ngày một gia tăng về số lượng cũng như tính chất. Trong tương lai, thực trạng trên được dự báo sẽ tiếp diễn, thậm chí có mặt sâu sắc, gay gắt hơn. Nếu không được rốt ráo, có thể dẫn tới những hệ lụy không thể xem thường. Hiện nay, nước ta cũng đang bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra rất nhiều cơ hội song cũng đặt ra không ít thách thức mới. Nếu không lượng định đầy đủ và có biện pháp ứng phó thích hợp, chúng ta sẽ phải đối mặt với khá nhiều hệ lụy cả về kinh tế, chính trị  - an ninh và xã hội, thậm chí cả trong quan hệ quốc tế.

Trong quan hệ quốc tế của nước ta càng nổi lên yêu cầu “tiên liệu, phòng ngừa và thích ứng” trên cơ sở kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, ra sức gia tăng nội lực, chủ động, tích cực, đồng thời cơ động, linh hoạt trong việc khai thác những cơ hội mới xuất hiện, hóa giải những thách thức mới nảy sinh, tránh rơi vào thế đối đầu căng thẳng hoặc bị lợi dụng trong các cuộc cạnh tranh toàn cầu./.

—————————————–

(1) Theo một số thông tin, nạn dịch hạch bùng phát trong thế kỷ XIV đã cướp đi sinh mạng của một phần tư dân số châu Á và châu Âu, riêng ở Anh có 4/10 triệu người dân tử vong; năm 1520, dịch đậu mùa đã làm cho một phần ba dân số Mê-hi-cô tử vong; năm 1918, dịch cúm đã làm cho một phần tư dân số thế giới bị lây nhiễm…

(2) gồm Bra-xin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi

(3) Ngay từ thế kỷ IV trước Công nguyên, nhà sử gia nổi tiếng của Hy Lạp Thu-xi-đai-đi (Thucydides), khi phân tích về cuộc cạnh tranh giữa A-then (Athens) và Xpác-ta (Sparta) đã rút ra quy luật là hai nước mạnh tranh nhau vị trí lãnh đạo tất đưa tới chiến tranh. Trong thời hiện đại cũng có nhiều nghiên cứu về quy luật này, trong đó nổi tiếng hơn cả là tác phẩm của nhà nghiên cứu người Mỹ Pôn Ken-nơ-đy (Paul Kennedy) với đầu đề “Sự thay đổi kinh tế và xung đột quân sự từ năm 1950 tới năm 2000 – Sự thịnh suy của các cường quốc”, do Nhà xuất bản Random House ở Niu Oóc (Mỹ) phát hành vào năm 1988

(4) Xây dựng quan hệ quốc tế kiểu mới và xây dựng Cộng đồng chung vận mệnh nhân loại

(5) Phát biểu của Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị tại hội thảo ở Thủ đô Bắc Kinh (Trung Quốc) về tình hình thế giới và hoạt động đối ngoại của Trung Quốc năm 2018

Vũ Khoan (Nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ/TCCS)

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here